Câu chuyện về Hòa thượng Hư Vân

2017-09-27 16:24

    Lúc hòa thượng Hư Vân 31 tuổi tu hành một mình trong vách núi ở Ôn Châu, đã gặp một vị hòa thượng đến tham Thiền, vị này hỏi ngài “Từ lâu đã nghe nói ngài đạo hạnh cao thâm, nên đặc biệt đến mong ngài khai thị”. Người này đã là cao nhân, nên hòa thượng Hư Vân cũng rất khiêm nhường và nói “Trí thức ngu muội, thiếu sở tham học, vọng Thượng tọa từ bi chỉ thị”. Hòa thượng Hư Vân nói rằng, trí tuệ của mình vẫn còn rất nông cạn, rất ít, bản thân lại ít đi tham vấn các vị Đại đức, hi vọng vị hòa thượng kia chỉ điểm cho ngài. Đây vốn dĩ cũng là Thiền ngôn. Cho nên, vị hòa thượng kia mới hỏi ngài tu như vậy bao nhiêu năm rồi? Làm như vậy đã bao nhiêu năm? Trước sau bế quan là 6 năm, cộng thêm 4 năm trên Cổ Sơn gánh nước, dọn cơm, cả thảy là 10 năm, ngài nói với vị hòa thượng đến tham Thiền ấy, vị hòa thượng liền nói “Tôi cũng ít tham vấn các vị Đại đức, không thể nói cho ông. Ông có thể đến am Long Tuyền ở Thiên Đài Hoa Đính, để thỉnh vấn lão hòa thượng Dung Kính. Vị ấy là người có đạo đức nhất ở Thiên Đài, nhất định có thể nhiêu ích cho ông”. Vị hòa thượng đến tham Thiền này cũng rất khiêm tốn. Ý ngài ấy là “Tôi cũng vậy, cũng ít tham vấn các bậc Đại đức”, hay nói khác hơn là “(Tôi) học cũng không nhiều, tôi cũng không thể nói nhiều được cho ông, nên ông có thể đến Thiên Đài sơn tìm vị lão hòa thượng Dung Kính, ông ấy rất giỏi”, thì “nhất định có thể nhiêu ích cho ông”. Điều này đã ảnh hưởng đến cả đời hòa thượng Hư Vân.


    Lúc hòa thượng Hư Vân đi đến am nhỏ này để gặp trưởng lão Dung Kính, trưởng lão Dung Kính đã nhìn ngài rất lâu, rồi hỏi “Ông là Tăng? Là đạo sĩ? Hay là người thế tục?” bởi vì lúc ấy tóc của hòa thượng Hư Vân rất dài, râu cũng dài. Bế quan lâu ngày trên núi, quần áo mặc trên người cũng chẳng bao nhiêu, chỉ là quấn trên người. Hòa thượng Hư Vân đáp lại “Là Tăng.” Trưởng lão hỏi “Thọ giới chưa?”, đáp “đã thọ đủ” (Tôi đã thọ đủ Giới, cũng chính là Tỳ Kheo rồi). Hỏi: “Ông như thế này đã bao lâu rồi?” Hòa thượng Hư Vân nói một hồi, trưởng lão lại nói với hòa thượng Hư Vân “Ông biết cổ nhân trì thân, còn biết cổ nhân trì tâm không?” Bởi vì trước đó hòa thượng Hư Vân nói về vấn đề này của mình, nên trưởng lão mới nói “Ông chỉ biết là cổ nhân tu thân, nhưng ông phải biết rằng cổ nhân cũng tu tâm nữa”. Bởi vì, thân thì có thể thấy được, còn tâm thì không thể thấy. “Nhìn những việc ông làm, gần giống ngoại đạo, đều không phải là con đường chân chính, đã uổng mất mười năm công phu”. Ý là xem trạng thái bây giờ của ông như thể ngoại đạo vậy, những việc này không phải là Phật đạo chân chính, ông tu mất 10 năm, cơ bản là đã uổng phí. Nghĩa làmột sự phủ định đối với ngài ấy. Tại sao? Chính là nói một đoạn thế này.


    “Nham thê cốc ẩm, thọ mệnh vạn niên, diệc bất quá như Lăng Nghiêm thập chủng tiên chi nhất, khứ đạo thượng viễn” Nghĩa là, ông tu hành ở thâm sơn cùng cốc, ở trong hang trong động, uống nước suối, ăn lá cây, v.v... Cho dù thọ mạng là một vạn năm đi chăng nữa, chẳng qua cũng giống như một trong mười loại tiên nhân mà trong Kinh Lăng Nghiêm nói đến, đối với Phật đạo hãy còn rất xa.


    “Tức tiến nhất bộ, chứng đắc sơ quả, diệc bất quá tự liễu hán nhĩ” nghĩa là, nói về mặt tốt đi nữa, thì dù ông có tiếp tục cố gắng hướng về phía trước, rồi đắc được sơ quả, quả Tu Đà Hoàn, thì cũng chỉ là người tự lo cho mình, đến cuối cùng ông vẫn là người tự lập.


    “Nhược Bồ Tát phát tâm, thượng cầu hạ độ,tự độ độ nhân, xuất thế gian bất ly thế gian giác.” Nghĩa là, nếu Bồ Tát phát tâm, thì phát tâm Bồ Đề, lợi ích chúng sinh, tự độ độ tha, nội tâm xuất ly thế gian nhưng lại không rời thế gian, nghĩa là hành Bồ Tát đạo tại thế gian.


    “Nhĩ miễn cường tuyệt lạp, liên khố tử đô bất xuyên, vị miễn hiển kỳ lập dị, hựu hà quái công phu bất năng thành phiến nỉ?” nghĩa là, giống như tình cảnh của ông bây giờ, “miễn cường tuyệt lạp” tức là ăn rất ít, mặc rất ít, chỉ đắp lên một tấm vải, ý là chả trách ông không thể đi vào Phật đạo. Bị trưởng lão nói như vậy, trong lòng hòa thượng Hư Vân thấu suốt đến tận cùng. Cũng tức là, đã nói đến chỗ mấu chốt. Hòa thượng Hư Vân lại đảnh lễ thỉnh cầu khai thị.


    Trưởng lão Dung Kính nói, “Ngã giáo nhĩ, nhược thính, tại giá lý trụ; bất thính, nhậm khứ.” Ông phát tâm dạy, nếu muốn nghe thì ở lại đây; còn không nghe, muốn đi đâu thì đi. Hòa thượng Hư Vân nói “Đặc lai thân cận, yên cảm bất thính?” Con đặc biệt đến đây để thân cận ngài, sao có thể không nghe ạ? Cho nên ngài ấy mới hoàn toàn vứt bỏ tông phái mình từng theo và cách làm trước kia của mình, để đi theo trưởng lão học “Thiên Đài GiáoQuán”, cần cù lao tác phục dịch, trưởng lão Dung Kính còn rất hoan hỉ. Điều này đã ảnh hưởng đến cả đời hòa thượng Hư Vân.


    Ngài trước khi khai ngộ lúc 56 tuổi cũng phải làm như vậy, một phần vì để báo ân cho mẹ, bởi vì sinh ngài mà qua đời, sau đó lại nghe nói cha ngài cũng từ quan về nhà, không lâu sau thì mất. Cho nên, vì báo ân cho cha mẹ, ngài đi về hướng Phổ Đà sơn, Ngũ Đài sơn, ba bước lạy một lạy! Thật ra lúc này ngài chưa khai ngộ, nhưng đã hành trì như vậy rồi. Ngài không những giống như lúc trước bế quan như thế, sau khi trưởng lão điểm hóa xong, ngài đã bắt đầu hành rồi, cho nên sau đó mới hành đến chùa Cao Mân,


    Lúc 56 tuổi, vì trước đó ngài đã có công phu thiền định, nên vào một tối nọ, khi vừa đốt hương buổi tối lên, ngài mở mắt ra, nhìn thấy mọi vật hiện như lúc ban ngày, trong ngoài đều rõ ràng. Đến ngày thứ ba của tuần thiền thất thứ tám, lúc đốt cây nhang khai tỉnh thứ sáu, thầy hộ thất đi đun nước sôi và rót cho chư tăng dùng, nước sôi bắn lên tay hòa thượng Hư Vân, ly nước rớt xuống đất, tiếng đổ vỡ đó, căn nghi liền bặt dứt. Bởi vì lúc đó, có lẽ hòa thượng Hư Vân đang ở trong chánh niệm quán chiếu (một niệm cũng không lóe lên), vô cùng sáng tỏ, tịch tịnh mà rõ biết, đang ở trong trạng thái đó. Đột nhiên xảy ra một chuyện bất thình lình, bị bỏng tay. Ly nước rớt xuống đất, câu chuyện này, cái suy nghĩ hoài nghi này đã cộng hưởng với tiếng “toang” vang lên sau khi ly nước rớt xuống đất. Tiếng vang này đã phá vỡ mối nghi của bản thân, đây gọi là “nhất thanh phá toái, đốt đoạn nghi căn”. Bởi vì ngài đã tìm hiểu câu chuyện rất lâu, nhất niệm, tế niệm, chỉ có nhất tâm, không có hai tâm, đang quán chiếu một cách rõ ràng. Nếu như không quán chiếu, thì chính là hòn đá trong nước lạnh. Bây giờ, ngài ấy quán chiếu việc này một cách rõ ràng, đang trong lúc quán chiếu, như như bất động, kết quả là tiếng “toang” của ly nước làm nhất niệm như như bất động này của ngài bị chặt đứt, ngài chỉ còn niệm này thôi, mà niệm này bị chặt rồi thì sẽ hết sạch, liền khai ngộ. Cho nên, “khánh khoái bình sinh, như tòng mộng tỉnh”. Đây là giây phút vui vẻ nhất, hạnh phúc nhất của ngài. Giống như giây phút mình tỉnh cơn mơ, giấc mơ ban ngày cũng đã tỉnh. Nói cách khác, cuộc sống thường nhật hằng ngày của chúng ta, đối với hòa thượng mà nói cũng là mơ thôi!


    “Tự niệm xuất gia, phiêu bạc sổ thập niên”. Lúc này, ngài nghĩ đến bản thân mình đã xuất gia phiêu bạc mấy mươi năm, đã đi nhiều nơi, cốt để tìm hiểu Phật ý. Rốt cuộc thì ý Phật là gì? Lúc trước bế quan, rồi sau lại làm trong tự viện để bồi phước, mất cả 10 năm, kết quả được trưởng lão giáo hóa: phải hành Bồ Tát đạo, chỉ làm như thể thì không thể nhập đạo được, cho dù nhập đạo cũng chỉ là tự lợi cho mình. Cho nên ngài mới hành Bồ Tát đạo.


    “Thử thứ nhược bất đoạn thủy đại bệnh, nhược bất ngộ thuận nhiếp nghịch nhiếp, tri thức giáo hóa, kỷ hồ thác quá nhất sinh”. Tức là, lần này nếu không phải vì rơi xuống nước, bệnh nặng một trận, hay nói khác hơn là thoát chết trong gang tấc. Nếu không phải vì gặp quá nhiều thuận cảnh, nghịch cảnh như thế, kể cả việc được thiện tri thức giáo hóa, ở đây chủ yếu muốn nói đến thiện tri thức giáo hóa là trưởng lão Dung Kính, thì làm sao có ngày hôm nay? Cho nên ngài đã nói một bài kệ nổi tiếng rằng “Bối tử phát lạc địa, Hưởng thanh minh lịch lịch. Hư không phấn toái dã. Cuồng tâm đương hạ hưu.” (tạm dịch: Cốc nước rơi xuống đất, Tiếng vang thật rõ ràng, Hư không tan thành bụi, Tâm cuồng liền thôi dứt.) Cái tâm cuối cùng cũng không còn, thì hư không tan thành bụi rồi, liền thấy tánh, liền khai ngộ rồi. Cho nên cả đời hòa thượng Hư Vân là thế nào? Hành Bồ Tát đạo. Không chỉ vì cha mẹ đời này của ta, mà còn vì tất cả cha mẹ. Mở rộng ra, đều là cha mẹ của ta. Cả đời xây chùa an Tăng, chủ yếu để khôi phục Tổ đình Tông thất, có thể nói dấu chân ngài đã rong rủi khắp cả trong lẫn ngoài nước, đều là đang hành Bồ Tát đạo.


    Sau đó vào năm 112 tuổi, vì sự kiện Vân Môn, ngài bị đánh đến hôn mê cả mấy ngày. Sau khi tỉnh lại đã nói mấy lời sau “Dư kho ảnh mộng chí Đâu Suất nội viện, trang nghiêm côi lệ, phi thế gian hữu”. Nghĩa là, trong chốc lát, tôi đã mơ thấy mình được đến Nội viện Di Lặc, vô cùng trang nghiêm đẹp đẽ, thế gian không có, không thể nào gặp được, hòa thượng Hư Vân nói. Nhìn thấy Bồ Tát Di Lặc thực sự đang thuyết pháp cho mọi người nghe, có rất nhiều thính chúng. Trong đó có hơn mười người mà hòa thượng Hư Vân đã quen biết trước đó, gồm có hòa thượng Chí Thiện chùa Hải Hội ở Giang Tây, pháp sư Dung Kính ở Thiên Đài sơn, đây là thầy của ngài, đã đến Nội viện Di Lặc rồi. Hằng Chí Công ở Kỳ sơn, hòa thượng Bảo Ngộ ở Bách Tuế Cung, hòa thượng Thánh Tâm ở Bảo Hoa sơn, hòa thượng Quán Tâm ở Kim Sơn cùng tôn giả Tử Bách, Luật sư Độc Thể, v.v.. tất cả đều ở trong Nội viện Di Lặc, đều là những nhân vật thuộc hàng Đại sư; “Dư hợp chưởng trí kính”, hòa thượng Hư Vân chấp tay chào hỏi, hết mực cung kính; “Bỉ đẳng chỉ dư tọa đông biên đầu tự đệ tam không vị”, các vị ấy bảo hòa thượng Hư Vân đến chỗ trống thứ 3 bên phải. Xem ra thành tựu thật không nhỏ! Đến vị trí cũng đã giữ sẵn rồi, đến lúc chỉ cần chiếu theo số vào chỗ ngồi thôi. “A nan tôn giả đương duy na, dữ dư tọa kháo cận.” nghĩa là tôn giả A Nan đương chức duy na (giám viện), nên ở bên phải. Bên trái là Thủ Tọa, bên phải là duy na giám viện. Hòa thượng Hư Vân ở vị trí thứ ba bên phải, ngài A Nan đương duy na ngồi vị trí đầu, bởi thế tôn giả A Nan ngồi rất gần hòa thượng Hư Vân. “Thính Di Lặc Bồ Tát giảng ‘duy tâm thức định’ vị cánh”, còn chưa xong đây, “Di Lặc chỉ vị dư viết:nhĩ hồi khứ.’” Còn chưa giảng xong, Bồ Tát Di Lặc bảo hòa thượng Hư Vân “con về đi”. Hòa thượng Hư Vân nói “Đệ tử nghiệp chướng sâu nặng, không muốn quay về.” Ngài không muốn về, ở đây tốt biết mấy! Đức Di Lặc nói “Nghiệp duyên con chưa tận, nhất định phải về. Sau này lại đến” Điều này thù thắng biết mấy! Rồi Bồ Tát Di Lặc đã nói một bài kệ, điểm mấu chốt nằm ở phía sau. Bởi vì Bồ Tát phải phát tâm từ bi lớn, tuy biết rằng mọi thứ như mộng như huyễn, nhưng phải tinh tấn, nỗ lực mà làm. Tại sao? Vì nguyện từ bi của mình đang chỉ đường dẫn lối cho mình. “Liên khai nê thủy, đoan tọa Phật đà.” Thành Phật thì đang làm gì? Chính là ở thế giới Ta Bà độ chúng sinh.


    Hòa thượng Hư Vân 112 tuổi, cách ngày viên tịch vẫn còn 8 năm, đã gặp được Bồ Tát Di Lặc rồi, lúc này đã chứng minh được thành tựu của hòa thượng Hư Vân, chỉ cần vãng sinh, nhất định có thể đến Nội viện Di Lặc, phải không nào? Đến lúc này thì thành tựu đã định xong, chắc chắn có thể đến Nội viện Di Lặc. Bởi vì lúc này đã dự định sắp đi rồi, nên đã đi. Nếu nói là mệnh đã tận, thì đã đi rồi sẽ không quay lại. Cho nên Bồ Tát Di Lặc đã kịp thời nhắc nhở, “Mệnh của con chưa tận, hãy tiếp tục ở nhân gian 8 năm”. Cho nên chúng ta phải phát tâm lớn, hành Bồ Tát đạo.


昵称:
内容:
验证码:
提交评论